có thể bạn quan tâm

Công suất hệ thống xử lý nước thải

Hệ thống xử lý nước thải hiện hữu có công suất 40 m3/ngày

Nước thải sau xử lý như thế nào

Nước thải sau xử lý đạt tiêu chuẩn QCVN 40-2011/BTNMT (Cột A) trước khi xả về hồ sinh học để tái sử dụng cho nhu cầu giải nhiệt khí thải của 0lò đốt, rửa xe, vệ sinh nhà xưởng và tưới cây xanh.

Bùn thải từ hệ thống xử lý nước thải

Bùn thải phát sinh từ hệ thống xử lý nước thải được tách nước và phối trộn với giẻ lau, cặn sơn thiêu đốt bằng lò đốt chất thải FSI 1000

Hiện nay, Nhà máy đang vận hành HTXLNT công suất 40 m3/ngày. Hệ thống xử lý nước thải vận hành liên tục và xử lý nước thải bằng phương pháp hoá lý kết hợp sinh học.

Nước thải tổng hợp: Nước thải tổng hợp được kiểm tra trước khi bơm sang bể tiền xử lý (Oxy hoá Fenton). Tại bể tiền xử lý có bổ sung các hóa chất H2SO4, H2O2, FeSO4 nhằm oxy hóa Fenton tạo ra các gốc tự do oxy hóa các chất hữu cơ, biến các chất hữu cơ cao phân tử thành các chất hữu cơ phân tử thấp, quá trình oxy hóa Fenton diễn ra tốt nhất ở pH 2-4.Sau đó nước thải được bơm lên thiết bị Simuteck.

Tại thiết bị Simuteck nước thải được châm NaOH để nâng pH>7 hình thành các bông keo, loại bỏ sắt và H2O2 dư giảm COD, màu, mùi có trong nước thải. Trong quá trình này sử dụng PAC để trợ keo tụ và Polymer để trợ tạo bông lắng. Tiếp theo nước thải sẽ được dẫn vào bể trung gian.

Nước từ bể trung gian sẽ được bơm lên tháp lọc áp lực để lọc, tại tháp lọc có các loại vật liệu lọc với kích thước khác nhau như đá, sỏi, cát,than hoạt tính nhằm hấp thụ và hấp phụ các chất ô nhiễm, nước sau cột lọc được chảy sang hồ sinh học. Tại hồ sinh học các thành phần ô nhiễm còn lại sẽ được xử lý trong quá trình tự làm sạch của hồ, đảm bảo được nước thải đầu ra đạt QCVN 40-2011/BTNMT trước khi thải vào nguồn tiếp nhận.

Nước thải có chứa hóa chất và kim loại nặng: Nước thải ô nhiễm chứa kim loại nặng được bơm sang hệ thống bể kết tủa hóa học, tại đây nước thải được điểu chỉnh pH và khuấy trộn bằng cánh khuấy để tạo các kết tủa muối kim loại. Sau đó được đưa sang bể lắng 1, tại bể lắng 1 các kết tủa kim loại được tách sang bể chứa bùn. Nước thải còn lại được chuyển về bể xử lý sinh học để xử lý nốt những hợp chất hữu cơ. Nước thải sau bể sinh học hiếu khí chuyển sang lắng 2 để tách toàn bộ sinh khối bùn trong nước. Một phần bùn này được tuần hoàn để bổ sung vi sinh cho bể sinh học.

Nước thải sau bể lắng 2 sẽ được lọc qua tháp lọc. Với nhiều lớp vật liệu lọc và cơ chế hấp thụ, hấp phụ toàn bộ chất ô nhiễm được giữ lại trên cột lọc. Nước thải sau cột lọc đạt tiêu chuẩn QCVN 40-2011/BTNMT trước khi thải vào hồ sinh học.

Nước thải có hàm lượng hữu cơ cao: Sử dụng vi sinh vật hiếu khí trong bể Aerotank để xử lý các chất ô nhiễm hữu cơ, N, P trong thành phần nước thải. Tiếp theo nước thải sẽ được dẫn vào bể lắng. Bùn từ bể lắng được đưa sang bể chứa bùn để tách phần nước còn lại bơm vào bể tổng hợp, phần bùn được đưa sang sân phơi bùn.

Nước thải từ bể lắng được bơm vào bể trung gian, sau đó từ bể trung gian sẽ được bơm lên tháp lọc áp lực để than hoạt tính hấp thụ các hóa chất độc hại còn lại trong nước trước khi nước được thải vào hồ sinh học.

Nước thải nhiễm dầu: Phương pháp xử lý nước thải nhiễm dầu chủ yếu tách dầu bằng trọng lực, tuyển nổi kết hợp với keo tụ, độ màu và chất lơ lửng còn lại (nếu có) sau tách dầu được xử lý tiếp bằng phương pháp keo tụ. Có thể sử dụng các bể tiếp nhận nước thải để xử lý sơ bộ. Bể chứa có khả năng lưu trữ nước một thời gian từ 1 đến 2 giờ, tại đây nước thải được để yên tĩnh, các hạt có trọng lượng riêng lớn hơn sẽ lắng xuống dưới, chất có khối lượng riêng nhẹ nổi lên với nước ra khỏi bể từ phía dưới và dầu nổi lên trên mặt.

Nước thải tiếp tục được xử lý tuyển nổi kết hợp với keo tụ để loại bỏ dầu, đồng thời loại bỏ SS và các chất hữu cơ, khử một phần độ màu nước thải với hiệu suất xử lý đạt 95%.

Quá trình keo tụ, sử dụng hóa chất keo tụ PAC và chất trợ lắng Polyme nhằm tăng hiệu suất quá trình loại bỏ các hạt vô cơ như SiO2, Fe2O3, hoặc hạt keo hữu cơ như dầu hoặc mỡ có kích thước rất nhỏ mà mắt thường không quan sát được. Tại bể có thiết bị đo pH để kiểm tra điều chỉnh đảm bảo pH tối ưu cho quá trình keo tụ khoảng pH= 5-9. Nước thải lưu tại bể keo tụ (bể trộn) từ 3-5 phút sau khi diễn ra phản ứng và tạo bọt. Nước thải lẫn dầu tiếp tục được xử lý tại bể tuyển nổi. Tại đây, không khí từ bình khí nén sẽ sục trực tiếp vào dòng nước thải, khi đó các bọt khí sẽ bám lấy các giọt dầu nhỏ hơn khối lượng riêng của nước, những giọt dầu sẽ theo bọt khí nổi lên trên bề mặt ở dạng bọt.

Bể tuyển nổi (Tuyển nổi khí hoà tan có đĩa thổi khí ở đáy bể): có nhiệm vụ làm các pha chứa dầu tự do và chất rắn nổi lên phía trên bề mặt lỏng để dễ dàng tách ra khỏi pha lỏng nhằm mục đích thu được nước phù hợp cho quá trình xử lý sinh học ở giai đoạn tiếp theo. Bọt nổi lên sẽ được thiết bị vớt bọt thu hồi đưa về bể chứa dầu.

Sau quá trình tuyển nổi kết hợp keo tụ có thể bơm sang bể tiền xử lý. Các công đoạn tiếp theo được xử lý như nước thải tổng hợp